Home / Giáo dục / Cảm nhận về bức tranh cảnh và người trong khổ 1 bài thơ Tây Tiến

Cảm nhận về bức tranh cảnh và người trong khổ 1 bài thơ Tây Tiến

Cảm nhận về bức tranh cảnh và người trong khổ 1 bài thơ Tây Tiến

Bài làm

“Thơ là rượu của thế gian” ( Huy Trụ), là nơi dừng chân của tâm hồn, là điểm tựa của cảm xúc để người nghệ sĩ trải lòng ký thác những tâm sự. Như bao nhà thơ từ cổ chí kim, Quang Dũng cũng tìm đến thơ để bộc bạch nỗi lòng. Nỗi lòng ấy là nỗi nhớ chơi vơi da diết về một vùng đất, về những dáng hình Tây Tiến đã xa nhưng vẫn còn in đậm trong tâm trí qua “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiệt” (Phong Lê) –  bài thơ Tây Tiến mà cụ thể là đoạn thơ thứ nhất.

“Cũng như nụ cười và nước mắt thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong”. “Cái hoàn thiện từ bên trong” là sự thổ lộ cảm xúc một cách mãnh liệt, là tiếng nói của trái tim. Với Quang Dũng, đó là một trái tim hồn hậu lãng mạn, một hồn thơ tài hoa phóng khoáng đã được chưng cất và nuôi dưỡng từ mảnh đất Hà Thành thanh lịch hào hoa cùng xứ Đoài mộng mơ mây trắng để kết tinh thành những trang thơ in đậm dấu ấn ca nhân Quang Dũng: “ Tây Tiến”, “ Những làng đi qua”…

cam nhan ve buc tranh canh va nguoi trong kho 1 bai tho tay tien - Cảm nhận về bức tranh cảnh và người trong khổ 1 bài thơ Tây Tiến

Puskin đã nhận định “ Cuộc sống là cánh đồng mầu mỡ để cho thơ bắt rễ sinh sôi.” Và nhà thơ như những con ong hút nhụy từ bông hoa đời sống, bằng những chuyến bay xa và sự tái tạo tài tình để biến phấn hoa thành mật ngọt. Trong Tây Tiến, bông hoa đời sống chính là hiện thực khắc nghiệt nhưng hào hùng của mảnh đất biên giới Tây Tiến đã in đậm trong tâm trí nhà thơ để một ngày cuối năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh khi đã chuyển đơn vị, ông nhớ đến nó tha thiết và gửi gắm nỗi niềm của bài thơ Tây Tiến.

Bài thơ đã thể hiện nỗi nhớ trào dâng da diết của tác giả về mảnh đất, con người biên ải. Mở đầu đoạn thơ là nỗi nhớ trào dâng, cồn cào, da diết, là nỗi nhớ như một cơn thác lũ cuộn tràn về tâm trí nhà thơ, đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.”

Nhà thơ nhớ đến đầu tiên là hình ảnh của dòng sông Mã, một dòng sông oai hùng, một chứng nhân lịch sử đã chứng kiến những kỉ niệm vui buồn, những chiến thắng vẻ vang và cả những hi sinh mất mát của người lính Tây Tiến. Sông Mã không thuần túy là một địa danh vô hồn hay chỉ là tên của một con sông mà đã trở thành đất mẹ yêu thương, là một miền nhớ sâu thẳm trong tâm hồn Quang Dũng và cả những người đồng đội Tây Tiến.

Tác giả viết “ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” là viết về một con sông Mã, một Tây Tiến đã xa. Thế nhưng, khi nhà thơ nói “xa rồi” cũng là khi những hình ảnh của một quá khứ chưa xa ập đến nhấc bổng ông hỏi mảnh đất hiện thực để tâm hồn lơ lửng chơi vơi giữa cõi nhớ. “ Nhớ chơi vơi!” Có lẽ vì nhớ quá mà nhà thơ không biết gọi tên chính xác nỗi nhớ của mình, chỉ biết một mình nhớ giữa thế giới hoài niệm không đầu không cuối, không có thứ tự thời gian không gian.

Dường như nỗi nhớ đã đi sâu vào tiềm thức nhà thơ như một nỗi ám ảnh khôn nguôi khiến cho ký ức hiện lên thành những hình ảnh lung linh sống động. Nỗi nhớ ấy, tiếng gọi ấy đưa nhà thơ trở về quá khứ với những kỉ niệm không thể quên về một thời gian khổ. Hai câu thơ giống như một tiếng gọi, một tiếng đồng vọng của nhớ thương vời vợi từ trong vô thức biến tên một địa danh, tên một đoàn quân trở thành hai miền mang linh hồn nhớ thương. Nỗi nhớ làm hiển hiện bao nhiêu hình ảnh tươi đẹp dù là hoài niệm mà sống động  như mới hôm qua:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Con đường hành quân điệp trùng với bao khắc nghiệt, dữ dội của một vùng rừng biên ải đã hiện lên qua kết cấu đoạn thơ cứ thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau trải dài miên man vô tận. Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp sương dày của núi rừng, tất cả lung linh, mờ ảo, như thực, như mộng. Thế nhưng bên cạnh ấy là hiện thực tàn nhẫn, lạnh lùng, khắc nghiệt của thiên nhiên Tây Tiến.

Tên địa danh “ Sài Khao”, “ Mường Lát” lần lượt hiện ra gợi sự xa xôi, hoang vắn, mênh mông của núi rừng biên giới. Ở đó, những làn sương vùng cao như chìm lấp đường đi, che lấp dáng người trong mờ mịt, như nuốt chửng đoàn binh. Tác giả đã nhìn thấy và miêu tả một mảnh hiện thực chiến tranh đã bị khuất lấp trong thơ ca kháng chiến. Đằng sau hình ảnh đoàn quân hùng dũng, hăm hở “đường ra trận mùa này đẹp lắm” là những phút giây mệt mỏi rã rời. Quang Dũng đã nhìn thẳng vào sự thật, dlắ nhắc tới cái bi bên cạnh cái hùng.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Đoàn binh Tây Tiến cất bước trên con đường xa vạn dặm, trắc trở, gập ghềnh với những con dốc “ khúc khuỷu”, “ thăm thẳm” không có điểm đầu, điểm cuối; với “ ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” gợi lên địa hình quanh co, cao chất ngất. Câu thơ “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” có đến năm thanh trắc góp phần khắc họa sự hiện trở của dốc núi, gợi hình dung những bước chân mỏi mệt của người lính trong quá trình hành quân. Đã thế, những dốc núi lại nối tiếp chót vót cao và sâu đến “ngàn thước”. Từ “ ngàn thước” được đặt ở đâù hai vế kết hợp với từ chỉ hướng “lên xuống” gợi ra một cung đường hiểm trở đang dựng đứng bỗng gấp gãy giữa không gian.

Tưởng rằng bao khó khăn thử thách ấy sẽ khiến đoàn quân nản chí, nhụt lòng. Nhưng không. Hình ảnh “súng ngửi trời” đã gợi ra biết bao điều mới mẻ về người lính Tây Tiến. Nó không chỉ diễn tả độ cao chót vót của dốc núi, cao đến mức mũi súng như đã chạm đến trời mà còn là một sáng tạo của nhà thơ mang vẻ đẹp của cảm hứng lãng mạn.Hai chữ “ ngửi trời”  đã nâng các anh lên tầm cao ngạo nghễ, thể hiện sự ngang tàng, tinh nghịch, yêu đời đồng thời khẳng định ý chí và quyết tâm chiến đấu chiếm lĩnh mọi tầm cao của các chàng lính trẻ. Chính vì chất lính trẻ trung ấy mà trước thiên nhiên dữ dội, các anh không bị lu mờ mà nổi lên đầy thách thức. Thiên nhiên trắc trở cũng trở nên thi vị, lãng mạn qua nhịp thở thư giãn của người lính:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Có thể nói, bốn câu thơ được xem là tuyệt bút hội tụ tài năng của Quang Dũng. Thơ có nhạc, có họa, tác giả đã đặc tả được vẽ hùng dũng của núi rừng Tây Tiến. Cảnh vừa khốc liệt hoang sơ vừa mỹ lệ trữ tình đã thu hút, khiến người lính trẻ thích thú say mê. Anh tự hào vì bản thân đang được nâng lên tầm cao vũ trụ khi có mặt trong cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc. Do vậy, dù thiên nhiên khắc nghiệt ám ảnh bởi tiếng gầm của núi rừng, tiếng gầm của chúa sơn lâm làm tỏ rõ sự bí hiểm, oai linh tuyệt đối thì các anh vẫn lạc quan bình thản “bỏ quên đời”:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời.”

Quang Dũng nói đến cái thực trên con đường hành quân: bao người chiến sĩ mỏi mệt đã gục lên súng mũ bỏ quên tất cả để tranh thủ giấc ngủ quý báu nhưng, chính là các anh đã vĩnh viễn nằm lại trên con đường hành quân. Có một điều kì lạ làm tỏa sáng cả ý thơ là người lính Tây Tiến dù gục xuống vẫn cố gắng trong tư thế của một người lính: súng mũ, hành trang vẫn còn đó sẵn sàng chiến đấu. Rõ ràng Quang Dũng nói sự thực về một vùng rừng núi che lấp con người nhưng chính những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ đã đưa họ bay lên, vượt qua tất cả.

Đoạn thơ thứ nhất khép lại bằng khung cảnh ấm áp thấm đẫm tình quân dân với tấm lòng thơm thảo của người con gái biên cương đã làm vấn vương tâm hồn người chiến sĩ:

“ Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”

Dù là câu thơ cuối nỗi nhớ vẫn cứ trào dâng, thường trực, vẫn da diết và ám ảnh khôn nguôi. Từ nỗi nhớ chơi vơi về con sông Mã oai hùng ấy, về rừng núi biên ải hoang sơ hùng vĩ và những dáng hình Tây Tiến đã xa ấ, Quang Dũng đã làm sống dậy một thời kháng chiến gian khổ hào hùng của dân tộc. Những người lính ra đi nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc giữa núi rừng hiểm nguy khắc nghiệt đến mấy thì tâm hồn vẫn lạc quan, yêu đời, vẫn tràn đầy quyết tâm để chiến thắn, để chiếm lĩnh mọi tầm cao.

Có thể nói, đoạn một bài thơ, nỗi nhớ chơi vơi về Tây Tiến đã xa đã được thăng hoa, cuộn trào và da diết hơn nhờ nghệ thuật cường điệu, nói quá, với thủ pháp tương phản và cách dùng từ láy gợi hình, gợi cảm,… Đoạn thơ không chỉ là thơ mà còn vang lên âm hưởng của nhạc điệu, của đường nét và màu sắc. Đó là một hồn thơ mới mẻ, trẻ trung của một ngòi bút tài hoa phóng khoáng khác hẳn với những tiếng thơ bi lụy não nùng…

Check Also

top 10 bai van ta cay chuoi 310x165 - Top 10 bài văn tả cây chuối

Top 10 bài văn tả cây chuối

Việt Nam là một trong những nước quanh năm cây trái tốt tươi. Trái cây …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *