Home / Giáo dục / Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm công việc của hiện thực, một vật liệu cứng như gỗ

Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm công việc của hiện thực, một vật liệu cứng như gỗ

Đề: “Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm công việc của hiện thực, một vật liệu cứng như gỗ” (Marquez). Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Bài làm

“Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” (Nam Cao). Bản chất của văn chương bao giờ cũng bắt nguồn từ cuộc sống; nghệ thuật phải gắn liền với mảnh đất hiện thực, chân lý đời sống thì mới có thể trở thành những kiệt tác nghệ thuật chân chính, độc đáo. Marquez từng nhận định “Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm công việc của hiện thực, một vật liệu cứng như gỗ”.

Đối với nghề mộc, nguyên liệu chính là gỗ-thứ nguyên liệu cứng nhắc và thô sơ, rất khó để tạo nên một tác phẩm vẹn toàn, chưa nói đến độc đáo, hoàn mĩ; nó đòi hỏi rất nhiều ở những người thợ gia công sự sáng tạo, khéo léo, tính tỉ mỉ đến từng chi tiết. Nếu chất liệu quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nghề mộc là gỗ thì nghệ thuật lại làm việc với hiện thực. Vốn dĩ hiện thực chỉ là những mảnh vụn rời rạc, không thống nhất, nếu không có bàn tay nhào nặn tài hoa và sức sáng tạo không ngừng nghỉ; có lẽ những người nghệ sĩ đã không thể tạo nên những tác phẩm chân chính và sinh động đến như vậy. Nói như thế để thấy rõ hơn, sâu sắc hơn nét tương đồng, thống nhất giữa hai công việc “nghề mộc-văn chương” và hai chất liệu “gỗ-hiện thực”. Gỗ cứng dù thô sơ vẫn khiến nghề mộc tạo nên được những tác phẩm có tính thẩm mĩ cao; cũng như vậy, hiện thực trong văn chương vốn rất khô rát nhưng lại ẩn chứa vô cùng sâu sắc nội hàm ý nghĩa, quan niệm nhân sinh quý báu của người cầm bút. Nhận định của Marquez về bản chất văn học đã làm nổi bật vai trò của hiện thực đối với tác phẩm nghệ thuật và yêu cầu về sức sáng tạo, tài năng cũng chính là sứ mệnh, thiên chức cao cả của người nghệ sĩ.

cuoi cung van chuong cung chinh la nghe moc anh deu lam cong viec cua hien thuc m - Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm công việc của hiện thực, một vật liệu cứng như gỗ

Tố Hữu từng quan niệm rằng: “Cuộc đời là nơi xuất bản cũng là nơi đi tới củ văn chương”. Hơn bất kì loại hình nghệ thuật nào, văn học gắn chặt với hiện thực cuộc sống, thể hiện sự thống nhất cao độ trong tác phẩm. Không có nghệ thuật nào là không hiện thực. Mỗi nhà văn trên con đường chinh phục cái đẹp đều phải nhận thức rõ về sứ mệnh của mình, không ngừng trăn trở, suy tư “Sẽ viết cái gì” và “Viết như thế nào”. Nếu nhà văn cảm nhận được rằng hiện thực xã hội chính là mảnh đất sống của văn chương thì việc trả lời cho câu hỏi ấy là vô cùng dễ dàng. Mỗi tác phẩm có giá trị hiện thực cao bao giờ cũng giúp con người ta hiểu rõ hơn về bản chất quy luật cũng như chân lý cuộc sống. Hiện thực trong văn chương có chức năng phản ánh thế giới nội tâm của con người dưới ngòi bút nhân đạo của nhà văn, góp phần vươn tới giá trị đích thực của nó là nghệ thuật vị nhân sinh và cái đẹp Chân-thiện-mĩ. Thực chất, hiện thực là những nguyên liệu thô, nhà văn không thể sao chép nguyên si vào tác phẩm văn chương của mình mà phải trải qua quá trình chọn lọc rất công phu, công việc ấy nghề mộc cho là gọt đẽo, gia công để biến cái thô sơ thành sản phẩm tinh tế và có ý nghĩa. Hiện thực là mảnh đất đời sống rộng lớn, mỗi nhà văn cần tiếp nhận nó trên nhiều phương diện, góc nhìn riêng bằng tài năng thật sự và sức sáng tạo không ngừng nghỉ của mình. Nếu không có lăng kính chủ quan của người cầm bút liệu tác phẩm văn học có thực sự là “tấm gương soi chiếu hiện thực cuộc sống”? Bởi lẽ đó, quy luật văn chương không chấp nhận sự lặp lại của người khác cũng như lặp lại chính bản thân mình, sự sao chép bản gốc đời sống một cách y nguyên. Đề cao sức sáng tạo của nhà văn, Marquez đã nêu lên quan điểm nghệ thuật riêng, tạo nên nhiều khám phá đầy giá trị trên nền hiện thực: chân lý nghệ thuật chỉ thống nhất chứ không đồng nhất với chân lý đời sống. Đối với Nam Cao, phong cách sáng tác của ông luôn gắn với quan niệm “Văn chương khôgn cần đến nhưng người thợ khéo tay, làm theo một vài kiêir mẫu đưa cho. ..” và điều ông tâm đắc nhất “Sóng đã rồi hãy viết, hãy hòa mình vào cuộc sống vĩ đại của nhân dân”. Lý tưởng nghệ thuật ấy chính là kim chỉ nam, được tác giả Nam Câo theo đuổi suốt cả chặng đường sự nghiệp của mình. Phải chăng, ta nhận thấy có sự đồng điệu, thấu cảm giữa quan niệm về văn học của Nam Cao và Marquez: “Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm công việc của hiện thực, một vật liệu cứng như gỗ”. Bản thân Nam Cao nhận thức được rằng một nhà văn chân chính không thể dẫm chân lên con đường mà người khác đã đi qua. Điều đó khiến ông không ngừng tìm tòi, học hỏi, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Cũng là thế hệ nhà văn hiện thực phê phán trước Cách mạng tháng tám, cùng thời với những cái tên quen thuộc Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng; thế nhưng Nam Cao đã tạo nên cái gì đó rất riêng, rất mới lạ trong tác phẩm của mình. Nếu những nhà văn khác đi sâu tiếp cận đời sống trên những bình diện rộng lớn thì Nam Cao lại khám phá ở từng góc độ nhỏ hơn, quan tâm hơn tới những số phận bất hạnh, éo le của người nông dân. Ông tái tạo hiện thực bằng bút pháp khách quan, pha một chút lạnh lùng và tàn nhẫn nhưng lại không phẫn uất, đau đớn theo cái cách của Vũ Trọng Phụng; nhẹ nhàng mà sâu cay giống Nguyễn Công Hoan hay nhân đạo, yêu thương qua những tác phẩm của Nguyên Hồng.

Đọc Chí Phèo, đơn giản chỉ là chuyện một con người bị lưu manh hóa với vẻ ngoài xấu xí đến dị hình, dị dạng; thế nhưng, đã rung lên hồi chuông cảnh tỉnh: hãy cứu vớt con người, khơi dậy lòng căm phẫn đối với những thế lực tàn bạo và hơn hết là tấm lòng nhân đạo, mới mẻ, sâu sắc của nhà văn đối với nhân vật của mình. Từ cuộc đời một Chí Phèo khái quát lên thành cả một “hiện tượng Chí Phèo” cứ quẩn quanh, bế tắc trong vòng tròn luẩn quẩn không lối thoát. Nam Cao miêu tả cuộc đời của Chí từ khi hắn sinh ra cho đến khi lớn lên, lúc nhắm mắt xuôi tay. Cả cuộc đời Chí là những chuỗi ngày dài bất hạnh, buồn tẻ, uất ức, tủi nhục và tăm tối. Sinh ra trong cảnh “màn trời chiếu đất”, vốn là một anh canh điền lương thiện, chất phác; bản thân Chí đã từng có những ước mơ bé nhỏ rất đỗi giản dị “chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải”. Thế nhưng, nhà tù thực dân đã tiếp tay cho cả cái xã hội bất công, phi lý này, đẩy cuộc đời Chí sang một trang khác tăm tối hơn. Chí dường như mất hết nhân tính sau đó, là một thằng lưu manh, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Sống trong cái xã hội vô nhân tính ấy, giọt nước mắt trong Chí Phèo những tưởng đã khô hạn, tiêu tan nhưng hóa ra chưa hẳn! Từ trong sâu thẳm Chí, nó vẫn âm thầm, len lỏi chảy, chờ một cơ hội để phát sinh, hồi phát. Cơ hội ấy chính là giây phút ánh mắt Chí Phèo bắt gặp cái nhìn của Thị Nở; giây phút ấy mắt Chí “hình như ươn ướt” khi nhận lấy bát cháo hành từ Thị và hơn hết là sự kì diệu của tình yêu thương đã cảm hóa, khơi dậy bản năng lương tri trong Chí, trút bỏ cái lốt quỷ dữ và trở về với con người lương thiện nguyên bản. Không chỉ đào sâu hiện thực xã hội, Nam Cao còn đánh dấu nét độc đáo trong phong cách sáng tác của mình: tài năng miêu tả tinh tế diễn biến tâm lý nhân vật. Có thể nói, trái tim của Nam Cao đang đau cùng nỗi đau của nhân vật, của cuộc đời. Thế đấy, nếu không có một trái tim nhân đạo thì không thể có ngòi bút hiện thực và không có quá trình miệt mài sáng tạo, trăn trở thì sẽ chẳng có những kiệt tác độc đáo đến như vậy! Tác phẩm của Nam Cao hội tụ đầy đủ hai yếu tố: chất hiện thực và sáng tạo. Đó đâu còn là những trang văn mà thực sự đã trở thành những trang đời. Hơn thế nữa, là những dòng đời hiện lên trong nước mắt ứa ra từ một tấm lòng nhân đạo giàu tình yêu thương.

Có những tác phẩm đã thật sự giúp người nghệ sĩ vượt lên khỏi ranh giới của sự lãng quên mà hướng tới sự tồn tại vĩnh hằng. Đó là khi người nghệ sĩ bằng tâm huyết, tài năng sáng tạo độc đáo của mình đã tạo ra những tác phẩm có giá trị cao, mang lại ý nghĩa nhân sinh vô cùng sâu sắc. Họ phải là những người mang trong mình sự kiên nhẫn, nghị lực, để quá trình biến những nguyên liệu hiện thực thô rát từ cuộc sống thành những tác phẩm, những trang văn, dòng đời có giá trị được chọn lọc kĩ lưỡng nhất. Những tác phẩm nghệ thuật phải gắn liền với hiện thực cuộc sống, “tiểu thuyết phải thực sự ở đời” (Vũ Trọng Phụng) và hội tụ đầy đủ phẩm chất sáng tạo và tài năng nghệ thuật của nhà văn. Về phần độc giả, họ luôn đóng góp một vai trò khá quan trọng đối với sự bất tử của văn chương và vấn đề tên tuổi sống còn của tác giả. Người đọc không nên chỉ nhìn vào kết cấu hình thức mà vội vàng đánh giá nội dung bên trong tác phẩm, cần đi sâu khai thác chất hiện thực tác giả muốn gửi gắm qua đó mới có thể nắm bắt hết giá trị của cái đẹp, cái tinh hoa ẩn sâu trong nội hàm văn học.

” Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm công việc của hiện thực, một vật liệu cứng như gỗ” (Marquez). Nhận định trên vô cùng đúng đắn, là một tư tưởng tiến bộ để người nghệ sĩ có cái nhìn mới mẻ hơn trong nghệ thuật văn chương, luôn cống hiến hết mình vì sự nghiệp mang đến món ăn tinh thần quý báu cho quý độc giả. Mỗi tác giả phải thật sự sống giữa hiện thực, không ngừng trau dồi tài năng, nhân cách để những tác phẩm được viết ra mang đậm tính nhân đạo và ghi dấu ấn sâu sắc của chất liệu đời sống. Thế mới nói, “nhà văn là người thư ký trung thành của mọi thời đại” (Banzac).

Check Also

top 10 bai van ta cay chuoi 310x165 - Top 10 bài văn tả cây chuối

Top 10 bài văn tả cây chuối

Việt Nam là một trong những nước quanh năm cây trái tốt tươi. Trái cây …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *