Home / Giáo dục / Khái quát chung về tác giả, tác phẩm và cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Tây Tiến

Khái quát chung về tác giả, tác phẩm và cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Tây Tiến

Khái quát chung về tác giả, tác phẩm và cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Tây Tiến

Bài làm

“Thơ là rượu của thế gian”( Huy Trụ), là nơi dừng chân của tâm hồn, là điểm tựa của cảm xúc để người nghệ sĩ trải lòng ký thác những tâm sự. Như bao nhà thơ từ cổ chí kim, Quang Dũng cũng tìm đến thơ để bộc bạch nỗi lòng. Nỗi lòng ấy lần nỗi nhớ chơi vơi, da diết về một vùng đất, về những dáng hình Tây Tiến đã xa nhưng vẫn còn in đậm trong tâm trí qua “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiệt” ( Phong Lê)- bài thơ Tây Tiến.

Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài có thể viết văn, làm thơ, vẽ tranh và soạn nhạc. Ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên người đọc nhớ tới Quang Dũng trước hết là một nhà thơ với phong cách hào hoa, một hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa. Và cái men say trong hồn thơ ấy đã được chưng cất và nuôi dưỡng từ mảnh đất Hà Thành thanh lịch, hào hoa cùng xứ Đoài mộng mơ mây trắng từng vang tiếng chốn “ Thiên môn đế khuyết” trong lời tự xưng của thi sĩ “ Sông Đà núi Tản nước Nam Việt” để kết tinh thành những trang thơ in đậm dấu ấn của Quang Dũng: Tây Tiến, Những làng đi qua…

khai quat chung ve tac gia tac pham va cam hung chu dao trong bai tho tay tien - Khái quát chung về tác giả, tác phẩm và cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Tây Tiến

Quang Dũng sinh ra trong hoàn cảnh đất nước chìm trong ách thống trị của thực dân Pháp. Do vậy, với một lòng yêu nước và tinh thần hăng say của chàng trai Hà Thành, vừa mới rời ghế nhà trường, Quang Dũng đã tham gia bộ đội đóng quân trong binh đoàn Tây Tiến có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt Lào, và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp. Mảnh đất biên giới Tây Tiến đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong tâm trí nhà thơ để một ngày cuối năm 1948, tại làng Phù Lưu Chanh, khi đã chuyển đơn vị, ông nhớ đến nó tha thiết và gửi gắm nỗi niềm vào bài thơ Tây Tiến.

Binh đoàn Tây Tiến được thành lập vào mùa xuân năm 1947 với lực lượng chủ yếu là học sinh, sinh viên, thanh niên ở Hà Nội. Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn binh khá rộng, bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa và cả Sầm Nưa (Lào). Đây là vùng biên giới của đất nước hoang vu, hùng vĩ, ẩn chứa bao nguy hiểm, khó khăn, thiếu thốn và cả những bí ẩn thú vị đối với người lính thủ đô. Tây Tiến dù khắc nghiệt, khốc liệt song vẫn không thể làm lung lay ý chí, tấm lòng, sự kiên cường bất khuất của các anh và còn níu kéo bước chân anh trong nỗi niềm thương nhớ khi đã rời xa.

Bài thơ Tây Tiến đã thể hiện nỗi nhớ ấy. Nỗi nhớ chơi vơi tràn ra ngay từ tên nhan đề Tây Tiến. Thực ra trước đó, bài thơ có tên là Nhớ Tây Tiến sau mới đổi thành Tây Tiến. Nhưng dù không có từ Nhớ, không nói trực tiếp nỗi nhớ, người đọc vẫn cảm nhận được một nỗi nhớ xôn xao hơn, da diết hơn, một nỗi nhớ luôn ám ảnh, thường trực. Nhan đề Tây Tiến cũng gợi lên một vẻ đẹp hàm súc khi nỗi nhớ đã hằn sâu vào tâm hồn, chỉ còn hiển hiện một mối quan tâm đau đáu đến một Tây Tiến của lòng mình. Nhắc đến Tây Tiến là nhớ đến đồng đội, nhớ từng gương mặt, từng niềm vui, nỗi vất vả, hi sinh gian khổ, là nhớ những nơi bàn chân đã đi qua, những đỉnh núi, ngọn thác trên mỗi cung đường hành quân. Nhắc đến Tây Tiến cũng là nhắc tới một thời máu lửa của dân tộc quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Bởi vậy, hai chữ Tây Tiến được viết bằng những hoài niệm, những nhớ nhung, những day dứt, ám ảnh. Tây Tiến trở thành linh hồn, thành điểm nhấn cảm xúc trong mỗi vần thơ.

Nhạc tính cũng được xem là vấn đề giàu có của bài thơ Tây Tiến với câu chữ vừa gân guốc, dữ dội, vừa chơi vơi trữ tình. Sức sống vượt qua thời gian và thử thách khắc nghiệt của thời đại đã khẳng định Tây Tiến là “một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của nền thơ ca kháng chiến. “ Tây Tiến vẹn nguyên trở về với người đã sinh ra nó để nhận lại vị trí của đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiệt, không phải chỉ của ông mà còn là của cả nền thơ cách mạng, ở vị trí mở đầu, ít có bài thơ nào thay thế được và cũng không ai ghen tị với nó” ( Phong Lê).

Tây Tiến ra đời năm 1948 nhưng mãi đến năm 1986 mới được in lại trong tập Mây đầu ô. Như vậy, tác phẩm đã mất 40 năm đi tìm cho mình một chỗ đứng. Trải qua bao hoài nghi về ngòi bút sa đọa, bi lụy, cuối cùng, Tây Tiến đã trở về với đúng giá trị của nó. Sự vô tâm làm thiệt thòi cho văn chương nhưng văn chương với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc sâu một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. Để rồi, tuy có một Quang Dũng thịt xương đã rời khỏi chúng ta nhưng đồng thời lại mang đến một Quang Dũng khói sương trong hình hài Tây Tiến sẽ còn chờn vờn mãi trong tâm tưởng của chúng ta.

Check Also

top 10 bai van ta cay chuoi 310x165 - Top 10 bài văn tả cây chuối

Top 10 bài văn tả cây chuối

Việt Nam là một trong những nước quanh năm cây trái tốt tươi. Trái cây …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *