Home / Giáo dục / Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Bài làm

“ Nếu anh bắn quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn lại anh bằng đại bác.” Đạo lý ân nghĩa thủy chung từ lâu đã trở thành một lẽ sống, một chuẩn mực xã hội của dân tộc Việt Nam ta. Nhiều tác phẩm thi ca ra đời có ý nghĩa thể hiện và nhắc nhở chúng ta ngày hôm nay về lẽ sống uống nước nhớ nguồn ấy. Trong số các tác phẩm viết về đề tài này, nhà thơ Tố Hữu cũng góp lời mình qua bài thơ Việt Bắc, mà cụ thể là qua tám câu thơ đầu.

Nhà thơ Tố Hữu, cái tên không còn xa lạ với độc giả ngày hôm nay. Ông góp vào làng thơ bảy tập thơ lớn: “ Từ ấy”, “ Việt Bắc”, “ Gió lộng”, “ Ra trận”, “ Máu và hoa”, “ Một tiếng đờn”, “ Ta với ta” phản ánh chân thực những chặng đường cách mạng của dân tộc bằng phong cách thơ trữ tình- chính trị. Thơ Tố Hữu hướng đến cái ta chung, ca ngợi lẽ sống lớn, niềm vui lớn với một giọng thơ tâm tình, ngọt ngào,đậm đà tính dân tộc. Điều đó đã được thể hiện rõ qua tám câu đầu bài thơ Việt Bắc.

Việt Bắc ra đời trong sự kiện lịch sử tháng 7 năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ được kí kết, hòa bình lặp lại ở miền Bắc, đến tháng 10, những người kháng chiến từ căn cứ địa miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Thủ đô. Bài thơ thuộc tập Việt Bắc (1946-1954) là bức tranh kỉ niệm đầy hùng tráng, thiết tha về cách mạng và kháng chiến đồng thời mở ra viễn cảnh của đất nước chiến thắng, toàn vẹn, ngợi ca Đảng, ngợi ca Bác Hồ.

phan tich 8 cau dau bai tho viet bac - Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Đoạn trích Việt Bắc đã khắc hoạ nên bức tranh kỉ niệm trong buổi chia tay đầy những bịn rịn, nuối tiếc, cả những lo sợ giữa Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng sắp trở về Thủ đô. Trong bức tranh ấy sáng bừng lên tình nghĩa thủy chung giữa cán bộ cách mạng và đồng bào Việt Bắc, là khúc hát tâm tình của những con người trong kháng chiến. Họ ra đi để lại núi rừng hùng vĩ, đẹp đẽ đồng thời cũng là khẳng định về chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Miền Bắc đã giải phóng, những người cách mạng trở về Hà Nội tiếp tục công cuộc bảo vệ Tổ quốc khiến người ở lại lưu luyến, bịn rịn:

“ Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.”

Đoạn thơ học từ ca dao qua cặp đại từ “ mình-ta” nhưng thơ Tố Hữu không chỉ là tình cảm yêu đương khăng khít, bền chặt như các cặp vợ chồng mà cao hơn là tình nghĩa cách mạng đong đầy. “ Mình về mình có nhớ ta”, “ mình” là cách mạng, “ ta” là Việt Bắc. Nhớ về Việt Bắc bởi đó là quê hương cách mạng, là nơi che chở cho bộ đội trong những năm kháng chiến gian khổ, là mối tình đầu mười lăm năm khăng khít của người ra đi. Cặp đại từ quan hệ “ mình-ta” đưa câu thơ trở về với hơi thở ca dao bình dị, đằm thắm như tình yêu lứa đôi để gửi gắm tình cảm lớn lao trong thời đại mới.

Khúc hát chia tay được cất lên bắt đầu từ chính lòng người ở lại. Bởi lẽ, người ở lại bao giờ cũng mang nhiều tâm trạng, nỗi niềm nhớ nhung, lo lắng liệu rằng mình về xuôi có còn nhớ đến ta, còn nhớ “ mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. “ Mười lăm năm ấy” không chỉ gợi lên sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc 1945-1954 mà còn là quãng thời gian gắn bó khăng khít giữa Việt Bắc và cách mạng như mối tình đầu đầy mặn nồng, tha thiết. Người ở lại nhắc nhở người ra đi về đạo lý ân nghĩa thủy chung “ nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”, lo sợ người ra đi sẽ vì “ quen ánh điện cửa gương” mà “ vângf trăng đi qua ngõ/ ngỡ người dưng qua đường”.( Nguyễn Duy)

Nhưng, người về làm sao có thể quên “ mười lăm năm ấy” ân nghĩa thủy chung. Câu hỏi của người ở lại làm bâng khuâng cả núi rừng sông suối, cả đất trời và cả cõi lòng “ mình” trong khung cảnh chia tay:

“ Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.”

Hai từ láy “ bâng khuâng, “ bồn chồn” đã diễn tả chính xác trạng thái tình cảm của người về xuôi. “ Bâng khuâng” vì nỗi niềm nhớ thương với cảnh, với người đã hoá thành kỉ niệm vấn vương, dâng trào trong tâm trí người đi. “ Bồn chồn” vì bước chân đã hoá tâm trạng, lưu luyến, nhớ nhung, không nỡ rời mảnh đất yêu thương mười lăm năm ấy. Dẫu ra đi, những cán bộ cách mạng vẫn không thôi nhớ nhung quê hương Việt Bắc. Cuộc chia tay vì vậy mà trở nên thiêng liêng, xúc động:

“ Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.”

Nhà thơ Tố Hữu đã bất ngờ làm hiện ra ý nghĩa lịch sử của cuộc chia tay qua hình ảnh hoán dụ “ áo chàm”. “ Áo chàm” ấy là biểu tượng của đồng bào dân tộc miền núi nghèo khổ, lam lũ nhưng chịu thương chịu khó, tần tảo, nghĩa tình. Tất cả tình cảm trở nên thiêng liêng, con người, vạn vật ngẩn ngơ trong cuộc chia tay lịch sử mà:

“ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Câu thơ lục bát vốn có kết của những nhịp chẵn đều đặn nay mang cái dìu dặt của những khúc hát chia tay đã chuyển thành nhịp lẻ 3/3/2 không chỉ thể hiện cái lặng đi trong giây phút xúc động mà còn diễn tả cí ngập ngừng, bịn rịn, lưu luyến trong bước chân của người về xuôi. Tiếng lòng người ra đi vang lên qua bốn câu thơ vừa là sự đồng vọng yêu thương vừa tái hiện chân thực khung cảnh chia ly lưu luyến vấn vương sâu nặng nghĩa tình trong ngày chiến thắng.

Như vậy, tám câu thơ đầu đoạn trích Việt Bắc đã diễn tả thành công cuộc chia tay lịch sử đầy cảm động, luyến lưu, nhung nhớ của người ở lại và người ra đi. Những câu thơ đẹp làm rung động lòng người không chỉ bởi cảm xúc trào dâng của nhân vật trữ tình mà còn bởi đạo lý thủy chung mà nhà thơ muốn gửi gắm. Dù cách xa, đến một nơi phồn hoa, đủ đầy hơn mong rằng mỗi người hãy luôn ghi nhớ và trân trọng cội nguồn, gốc rễ của mình.

Check Also

top 10 bai van ta cay chuoi 310x165 - Top 10 bài văn tả cây chuối

Top 10 bài văn tả cây chuối

Việt Nam là một trong những nước quanh năm cây trái tốt tươi. Trái cây …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *