Home / Giáo dục / Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Bài làm

Vẫn biết cứ thương rồi sẽ nhớ, cứ đợi chờ rồi sẽ đau, cứ hoài niệm rồi sẽ chẳng bao giờ có thể sống với hiện tại, thế nhưng, đôi khi, có những người không thể thoát ra khỏi những vùng trời quá khứ cũ kỹ dù lớp bụi thời gian đã dày đặc, chất chồng. Những sáng tác của Hàn Mặc Tử thường tập trung thể hiện rõ điều đó. Một trong những sáng tác nổi bật nhất của ông chính là bài “Đây thôn Vĩ Dạ”, được trích trong tập “Thơ Điên”, xuất bản lần đầu năm 1938. Bài thơ là những cảm xúc bất tận của ông dành cho người trong mộng – bà Hoàng Thị Kim Cúc cùng những nỗi buồn sâu lắng, thầm kín khó có thể giãi bày.

Mở đầu bài thơ, Hàn Mặc Tử viết:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Câu thơ thứ nhất có dạng câu hỏi tu từ, là một câu hỏi có âm điệu nhẹ nhàng. Thế nhưng, ẩn đằng sau đó là sự trách móc, dỗi hờn của người con gái, trách chàng trai sao không về thôn Vĩ Dạ thăm mình. Đặc biệt, trong câu thơ này, tác giả dùng từ “về” mà không dùng các từ như “đến” hoặc “tới” là vì từ này thường sử dụng cùng với các nơi chốn gần gũi, thân thiết. Điều đó cho thấy, tác giả xem thôn Vĩ là một nơi gắn bó máu thịt, chứa nhiều kỷ niệm sâu sắc, thời gian không thể xóa mờ. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng từ “không” mà không sử dụng từ “chưa” vì thôn Vĩ hôm nay sẽ không bao giờ còn là thôn Vĩ của ngày trước. Hoàng Thị Kim Cúc đã không còn sống ở nơi đây. Hàn Mặc Tử rất mong được tìm lại cảnh cũ người xưa nhưng thực tế chỉ còn là vô vọng.

phan tich bai tho day thon vi da cua han mac tu - Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Sang câu thơ thứ hai, bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ dần hiện ra cùng điệp từ “nắng”. Ánh nắng mới lên như tưới những tia sáng ấm áp lên những tàu cau xanh. Hàn Mặc Tử lại dìu dắt độc giả đến không gian đầy ảo mộng dù bao năm rồi ông chưa từng ghé về thôn Vĩ Dạ.

Câu thơ thứ ba như một tiếng reo bất ngờ, trầm trồ, ngạc nhiên. Khu vườn Vĩ Dạ chẳng rõ chủ nhân nhưng vẫn tươi tốt, tràn đầy sức sống. Đặc biệt, từ “mướt” được Hàn Mặc Tử sử dụng rất “đắt”, diễn tả sự mượt mà, nõn nà trên cành lá. Ngoài ra, cách so sánh “xanh như ngọc” gợi cảm giác trong trẻo, tươi sáng, vừa có sắc vừa có ánh. Có thể thấy, câu thơ thứ ba là cái nhìn chân thực, chi tiết và cận cảnh của tác giả về khu vườn thôn Vĩ.

Sang câu thơ thứ tư, đã có sự xuất hiện của con người qua cách miêu tả “mặt chữ điền”. Kết hợp với hình ảnh “lá trúc” gợi ra sự mảnh mai, duyên dáng, câu thơ vẽ nên bức tranh về sự dịu dàng, trang nhã và phúc hậu. Cảnh vật và con người như hòa quyện vào nhau. Người chấm phá cho cảnh. Cảnh tô điểm cho người.

Ẩn sau tất cả, Hàn thi sĩ đã thể hiện một cách ngầm ẩn sự tiếc nuối, niềm khát khao được trở về thôn Vĩ yêu thương thông qua khổ thơ thứ hai:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Câu thơ có sự xuất hiện của hai hình ảnh quen thuộc “gió” và “mây”. Hai hình ảnh này thường đi đôi với nhau, thế nhưng, với “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mặc Tử đã gửi vào đó một nỗi buồn man mác. Gió một đường và mây một ngả. Gió theo lối gió. Mây về phía mây. Tuy nhiên, cảnh buồn hay chính tâm hồn Hàn thi sĩ đang trĩu nặng tâm tư? Chẳng phải Đại thi hào Nguyễn Du đã từng viết:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui bao giờ!”

Đâu chỉ “gió”, “mây”, “dòng nước” cũng lặng lờ như mang một nỗi buồn hắt hiu, hoàn toàn không có bóng dáng của sự sống. Tính từ “buồn thiu” khiến cho dòng sông trông thật chán nản, buồn bã và u sầu. “Hoa bắp” lay một cách khẽ khàng, khiến khung cảnh càng thêm tĩnh mịch.

Sang câu thơ thứ ba và thứ tư, đại từ phiếm chỉ “ai” khiến cho khổ thơ trở nên mơ hồ, xa lạ và hư ảo. Con thuyền vốn là một cảnh thực, thế nhưng, khi kết hợp cùng “ai”, hình ảnh ấy dường như đã biến thành mộng tưởng. Thuyền đậu trên bến “sông trăng”, để chở trăng về một nơi nào đó rất xa xôi. Khung cảnh gợi lên vẽ đẹp lãng mạn, nhẹ nhàng nhưng tất cả đắm chìm trong bồng bềnh, mơ mộng và hư ảo.

“Trăng” là nơi bầu bạn tâm sự và cũng là người bạn tri âm tri kỉ của nhà thơ. Ông mượn trăng để gửi gắm những nỗi niềm của mình. Câu hỏi tu từ “Có chở trăng về kịp tối nay” được thốt lên như một tiếng khóc mà nhà thơ đang cố nén chặt. Câu thơ thể hiện sự khắc khoải, lo âu của Hàn Mặc Tử về quỹ thời gian ngắn ngủi. Bệnh tật đã khiến lòng ông không ngừng bất an. Và quả thật, thuyền không kịp chở trăng về. Hàn thi sĩ cũng không chờ đợi được sự hồi đáp của Hoàng Thị Kim Cúc. Chỉ một thời gian ngắn sau khi sáng tác “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mặc Tử cũng vĩnh biệt cuộc đời. Đau thương bất hạnh cứ mãi dằn xé con người đáng thương kia, số phận ngắn ngủi nên những ước mơ về cuộc sống, tình yêu vẫn cứ hoài dang dở.

Sang khổ thơ cuối, nỗi buồn lại càng chất chồng, sự cô đơn cũng càng chồng chất. Vòng tuần hoàn về những niềm lo âu, khắc khoải mãi chẳng thể tan đi. Hàn Mặc Tử, vì thế, tiếp tục những dòng cảm xúc trong thế giới tâm tưởng đầy mộng ảo:

“Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà”

“Mơ” là một trạng thái vô thức, nó vừa thể hiện nỗi lòng của nhà thơ lại vừa giúp xóa nhòa ranh giới giữa hiện thực và hư ảo, ngoại cảnh và nội tâm. Bên cạnh đó, điệp ngữ “khách đường xa” được lặp lại hai lần góp phần nhấn mạnh khoảng cách giữa thi nhân và người trong mộng.

Sang câu thơ tiếp theo, nhân vật trữ tình “em” lần đầu xuất hiện. Nhưng đặc biệt, “em” hiện lên với màu áo trắng, trắng đến hư ảo, trắng đến nhạt nhòa, trắng đến “nhìn không ra”. Từ “quá” khiến cho “em” dường như không có thực, thậm chí không hề tồn tại.

Và rồi, cái hư ảo – đặc trưng nổi bật trong thơ Hàn Mặc Tử còn được nhấn mạnh hơn qua câu thơ thứ ba trong khổ cuối. Cách nói “sương khói” không chỉ vẽ nên xứ Huế huyền ảo, mộng mơ mà còn khiến cho mọi thứ trở nên nửa hư nửa ảo, nửa gần nửa xa. Ngoài ra, cụm từ “mờ nhân ảnh” càng làm câu thơ thiếu vắng sự tồn tại của con người, tình người. Tình yêu chỉ vừa chớm xuất hiện giờ càng trở nên khó hiểu, xa vời, khó nắm bắt.

Cuối bài thơ, một lần nữa, câu hỏi tu từ lại vang lên khiến toàn bộ cảm xúc chủ đạo trở nên nặng trĩu. Ở đây, với cách sử dụng điêu luyện đại từ phiếm chỉ “ai”, Hàn Mặc Tử mang đến cho câu thơ hai ý nghĩa. Tình cảm người con gái thôn Vĩ dành cho ông có đậm đà hay không. Và người con gái ấy có biết rằng tình cảm của ông dành cho cô ấy rất đậm đà hay không. Với cả hai nghĩa, câu thơ đều thể hiện một nỗi hoài nghi, bất an trong tình cảm của chính mình. Thế nhưng, dù có trăn trở đến thế nào, độc giả vẫn nhận ra ở Hàn Mặc Tử một con tim yêu cuồng nhiệt, nồng nàn, cháy bỏng.

“Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những “đóa hoa thơ” tươi thắm nhất trong vườn Thơ Mới rực rỡ. Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa giữa vẻ đẹp thiên nhiên và tình yêu tha thiết của Hàn Mặc Tử. Vượt lên trên số phận nghiệt ngã, Hàn thi sĩ vẫn khiến cho độc giả rung động với những suy tư, trăn trở, lo lắng cùng những yêu thương của ông dành cho xứ Huế, dành cho người con gái thôn Vĩ. Vượt bao thời gian, “Đây thôn Vĩ Dạ” vẫn giữ mãi được giá trị của mình. Buồn đau, khắc khoải nhưng vẫn ngời sáng bởi tình yêu cháy bỏng, nồng nàn, bất diệt.

Check Also

top 10 bai van ta cay chuoi 310x165 - Top 10 bài văn tả cây chuối

Top 10 bài văn tả cây chuối

Việt Nam là một trong những nước quanh năm cây trái tốt tươi. Trái cây …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *