Home / Giáo dục / Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương [TOP bài ĐIỂM CAO]

Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương [TOP bài ĐIỂM CAO]

Phân tích Vịnh khoa thi hương của Tú Xương để thấy thái độ mỉa mai lẫn căm uất của nhà thơ đối với chế độ thi cử đương thời cũng như đối với con đường thi cử gian nan, lận đận của riêng ông. Với Vịnh khoa thi hương, đã có nhiều ý kiến xoay quanh chủ đề tác phẩm, nhiều người đã cho rằng bài thơ chính là tiếng khóc nhưng lại có người cho đó là tiếng cười đầy châm biếm sâu cay của Tú Xương trước thời cuộc lúc bấy giờ… Hãy cùng Baiviethay.com tìm hiểu và phân tích Vịnh khoa thi hương của Trần Tế Xương.

Mở bài: Nếu trong bài thơ Thương vợ, Tú Xương thể hiện một giọng thơ trữ tình đằm thắm da diết pha chút ngậm ngùi chua xót cho thân phận mình.

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Một duyên hai nắng âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không.”

Nhưng đến với bài thơ Vịnh khoa hương, ta lại bắt gặp ở Tú Xương một giọng thơ trào phúng rất hiện đại. Tuy nhiên, ẩn sau giọng điệu hài hước ấy là một sự chua xót bất lực trước thời cuộc của đất nước.

“Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến

Váy lê quét đất mụ đầm ra

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng”

Sơ nét về tác giả Tú Xương và bài thơ Vịnh khoa thi hương

Trước khi phân tích Vịnh khoa thi hương, người đọc cần nắm được những nét cơ bản về Trần Tế Xương cùng tác phẩm.

Giới thiệu nhà thơ Tú Xương

Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương, sinh năm 1870 mất năm 1907. Ông quê ở Vị Xuyên, Mĩ Lộc, Nam Định, nay là phố Hàng Nâu, tỉnh Nam Định. Bút danh là Tú Xương. Bút danh ấy xuất phát từ bi kịch cuộc đời ông. Từ năm 15 tuổi ông đã bắt đầu đi thi. Trước đó ông từng thi hỏng các kỳ thi khoa Ất Dậu 1885, khoa Mậu Tí 1888, khoa Tân Mão 1891 nhưng đều hỏng.

Vốn tính tình phóng khoáng không gò bó câu nệ quy tắc, ông không hợp với các kì thi nên dù thi nhiều lần ông chỉ thi đậu tú tài. Dù không thích nhưng ông vẫn đi thi vì trong xã hội phong kiến đó là nghĩa vụ trách nhiệm của kẻ làm trai như Nguyễn Công Trứ từng mạnh mẽ khẳng định”.

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Đi thi đỗ đạt làm quan chính là cách để cống hiến sức mình cho đất nước. Sau đó ông còn đi thi thêm nhiều khoa như khoa Đinh Dậu 1897, khoa Canh Tý 1900, khoa Quý Mão (1903) và khoa Bính Ngọ 1906. Vì thế đề tài đi thi thường xuất hiện trong thơ Tú Xương trở thành một đề tài quen thuộc. Đến với đề tài này, giọng thơ của Tú Xương vừa có sự phẫn uất, vừa có sự bất lực:

“Thi không ăn ớt thế mà cay”.

Trần Tế Xương cũng từng viết:

“Một việc văn chương thôi cũng nhảm,

Trăm năm thân thế có ra gì?“.

(Buồn thi hỏng)

Nội dung bài thơ Vịnh khoa thi hương

Phân tích Vịnh khoa thi hương sẽ thấy bài thơ này gắn với hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Khoa thi Giáp Ngọ trước ông đậu tú tài nên nếu khoa thi Định Đậu này ông đậu cử nhân thì ông có thể ra làm quan giúp ích cho dân cho đời. Thế nên ông đi thi với tâm thế tràn đầy hi vọng nhưng cuối cùng kết quả vẫn hỏng. Hỏng không phải vì ông không giỏi mà vì chế độ quan liêu mục nát đương thời đã vùi lấp đi tài năng của ông. Đó cũng là lúc những yếu tố ngoại lai cợt nhã xuất hiện trong một cuộc thi vốn nghiêm trang.

Chính bởi thế mà trong bài thơ không chỉ là sự phẫn uất với chế độ thi cử mục nát mà còn là nỗi nhục mất nước. Càng cười lại càng đau…Bài thơ chính là bức tranh về một kì thi Hương cuối triều Nguyễn với sự lố lăng và nhốn nháo, sự ô hợp dưới sự giám sát của bọn thực dân Pháp.

Phân tích Vịnh khoa thi hương của Tú Xương

Đi theo kết cấu của tác phẩm, với các câu thơ đề – thực – luận – kết, người đọc sẽ cảm thấy tiếng cười trào phúng, đầy mỉa mai sâu cay nhưng cũng đầy bất lực của nhà thơ trước thực trạng thi cử của nước nhà – Đó chính là ý nghĩa khi phân tích Vịnh khoa thi hương của Tú Xương.

Hai câu đề: Giới thiệu về trường thi, hoàn cảnh thi

Hai câu đề đã gợi mở hoàn cảnh của cuộc thi:

“Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà”

“Nhà nước” thời bấy giờ được mặc định chính là triều đình mà đứng đầu là vua. Chính triều đình đứng ra tổ chức thi cử nhằm mục đích tuyển chọn nhân tài giúp dân giúp nước. Tuy khi ấy nước ta chịu sự “bảo hộ” của Pháp nhưng vẫn tổ chức thi cử theo quy cũ Hán Học. Một kỳ thi nghiêm túc “ ba năm mở một khoa” cho thấy tính nghiêm trang của kỳ thi.

Thế nhưng khi phân tích Vịnh khoa thi hương, ta thấy ở câu sau tác giả đã đưa vào một sự hỗn tạp xô vô. Trường Nam và Trường Hà trộn lẫn, vàng thau lẫn lộn. Sự lẫn lộn này đã cho thấy sự xuống cấp suy thoái của nhà nước. Đời Nguyễn, ở Bắc Kỳ kỳ thi Hương được tổ chức ở hai hội đồng thi khác nhau. Đó là hội đồng thi ở Nam Định và hội đồng thi ở Hà Nội. Sĩ tử gần trường thi nào sẽ thi ở trường thi đó. Rạch ròi tách bạch không có sự trộn lẫn. Đó chính là nề nếp, sự nghiêm trang của kỳ thi.

Nhưng từ sau khi Pháp “bảo hộ” nước ta, trường thi Hà Nội đã bị chiếm. Đó là lí do dẫn đến cái sự hỗn tạp nhố nhăng lẫn lộn này. Tất cả sĩ tử dồn về một nơi. Phân tích Vịnh khoa thi hương, người đọc sẽ hiểu sâu sắc về tình cảnh vô cùng hỗn lộn không còn cái sự trang nghiêm của một kỳ thi nơi “cửa Khổng sân Trình”. Nếu ở câu đầu là sự nghiêm túc thì ở câu sau lại là một sự hỗn loạn. Một bức tranh đối lập với những nét chạm khắc đầu tiên hiện ra nơi khung cảnh trường thi. Vài cái nét hỗn độn ấy chính là nét chung nhất của bức tranh trường thi.

Hai câu thực: Khung cảnh cụ thể về trường thi

Tuân theo mô hình đề – thực – luận – kết thì hai câu tiếp theo chính là khung cảnh phác họa cụ thể hơn về khung cảnh trường thi.

“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa.”

Phân tích Vịnh khoa thi hương, ta thấy rằng biện pháp đảo ngữ kết hợp với từ láy đã tạo hiệu ứng đặc biệt cho dòng thơ. “Lôi thôi” chính là từ láy tượng hình diễn tả sự nhếch nhác không quy tắc chuẩn mực. Sĩ tử chính là những thí sinh dự thi, là những nhân tài tương lai của đất nước.

Nhưng nực cười thay hình ảnh những ông nghè, ông cử, tiến sĩ tương lai của đất nước lại hiện ra lôi thôi nhếch nhác. Sự nhếch nhác ấy đến từ ngoại hình “vai đeo lọ”. Đây vốn là hình ảnh quen thuộc của những sĩ tử đi thi. Lọ ở đây có thể là lọ đựng mực, bút, sách hay lọ cũng có thể là lọ đựng nước. Tuy không nói cụ thể nhưng ta vẫn cảm nhận cái hình ảnh vốn trang nghiêm ấy lại bị hạ bệ bởi chính những người đi thi. Ngay từ ngoại hình đã không chuẩn mực thì nói gì đến tài năng, nhân cách cũng như sự cống hiến cho đất nước.

Phân tích Vịnh khoa thi hương, người đọc bỗng nhận ra dường như trong đám sĩ tử ấy cũng có cả hình ảnh ông Tú trong đó. Hán học suy tàn vào cuối mùa thì những sĩ tử theo nghiệp nho học như ông có đi thi thì cũng chẳng có ý nghĩa gì, như một sự níu kéo chút tôn nghiêm của cùng của những kẻ sĩ Hán học sắp tàn

khí rụt rè gà phải cáo

Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi”

Đối lại với hình ảnh sĩ tử là hình ảnh của quan trường

“Ậm ọe quan trường miệng thét loa”

Từ tượng thanh “ậm ọe” đã phơi bày và làm rõ thêm sự nhố nhăng đến từ nơi thi cử. Không chỉ là sĩ tử lôi thôi nhếch nhác mà cả những vị quan trường vốn mang tiếng trang nghiêm cũng hiện ra nhếch nhác lôi thôi. “Ậm ọe” thể hiện đám quan lại mất đi cái phong thái tôn kính và trang nghiêm của kẻ làm quan.

“Miệng thét loa” gợi ra một khung cảnh có phần nhộn nhịp mà nếu chỉ nghe ba từ này ta sẽ có cảm giác ở nơi phố chợ sầm uất hay ở một lễ hội nào đó. Nhưng thực bất ngờ đó lại là ở nơi trường thi uy nghiêm bậc nhất. Ậm ọe gợi chuỗi âm thanh không rõ ràng thường dùng để gợi tả âm thanh của những đứa trẻ đang tập nói mà nhà thơ lại dùng từ này để chỉ các vị quan. Lại thêm một sự hạ bệ. Hai câu thơ đối song song đã cho thấy được khung cảnh tại trường thi như một mớ hỗn tạp giống tình cảnh của đất nước lúc bấy giờ…

Phân tích Vịnh khoa thi hương sẽ thấy càng đi sâu vào bức tranh chốn trường thi ta càng thấy sự suy vi của Hán học và sự suy vi của cả xã hội trong thời buổi loạn lạc. Hai tầng lớp cao quý trong xã hội là sĩ tử và quan trường nhưng trong bức vẽ của Tú Xương lại hiện ra trần tục mất đi vẻ nho nhã thư sinh, vẻ tôn nghiêm. Những đại diện của Hán học cũng mất đi cái vẻ cao cao tại thưởng vốn có. Từ đó đã gợi sự suy tàn của chế độ phong kiến.

Hai câu luận: Cảnh đón rước quan sứ và phu nhân

Tác giả đã phá hai câu luận, mà thay vào đó là những nét khắc họa cụ thể hơn vào bức tranh chốn quan trường.

“Lọng cắm rợp trời quan sứ đến

Váy lê quét đất mụ đầm ra”

Đó là nét phác họa về ông Tây và mụ đầm. Hai yếu tố ngoại lai xuất hiện trong bức tranh trang nghiêm của chốn thi cử Hán Học mang dấu ấn đặc trưng phương Đông. Đây chính là yếu tố ngoại lai gắn liền với lịch sử.

Phân tích Vịnh khoa thi hương của Tú Xương, ta thấy theo nghiên cứu của các nhà sử học, hai nhân vật đến dự đó là toàn quyền Paul Doumer và vợ chồng tên công sứ Nam Định Le Normand. Thế nhưng nực cười hơn ở chỗ sĩ tử không cúi mình lạy quan vốn chỉ lạy vua thì nay lại phải cúi rạp mình xuống để lạy ông tây bà đầm. Hình ảnh đầu tiên là hình ảnh uy nghiêm như một tín hiệu đáng mừng trong bức tranh châm biếm này thì tiếp đến là “váy lê quét đất mụ đầm ra”.

“Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân, ông cử ngỏng đầu rồng”

Mọi sự uy nghiêm bị phá vỡ. Và đáng buồn hơn nó cò gợi ra tình cảnh mất nước nhục nhã. Cái nhục không chỉ của sĩ tử nơi trường thi mà là cái nhục quốc thể của mỗi người dân. Vốn nơi trường thi không được xuất hiện bóng dáng của nữ nhi nhưng ở đây “bà đầm” lại xuất hiện không phải với trang phục trang nghiêm mà là “váy lê quét đất”.

Những sĩ tử ấy vậy mà phải cúi đầu trước cái “váy lê quét đất” ấy. Váy lê, áo tôm là những hình ảnh nực cười. Đó là trang phục dự tiệc dạ hội không phù hợp với nơi hàng ngàn sĩ tử ăn vận trang nghiêm. Hai nét khắc họa khiến cho con người trở nên lạc lõng hơn. Đây là chốn trường thi hay là nơi lễ hội, đây là chốn trang nghiêm hay nơi để đùa vui. Đau đớn và chua chát cho thận phận của mình. Và ẩn sau đó còn là sự chua xót ngậm ngùi cho tình cảnh mất nước.

Hai câu kết: Lời kêu gọi đến những kẻ sĩ của nhà thơ

Kết lại bài thơ lại là một hình ảnh thơ chua xót:

“Nhân tài đất Bắc nào ai đó,

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”.

Đây chính là nỗi nhục nhã mà Nguyễn Tuân nói “Không đỗ cũng cực, mà đỗ để phải phủ phục xuống mà lạy Tây, lạy cả đầm, thì quả là nhục”. Trên ghế, dưới sân hai không gian khác nhau thể hiện vị thế khác nhau. Từ bao giờ mà ông tây bà đầm lại trở nên uy quyền như thế. Điều đó chỉ xuất hiện trong tình cảnh đất nước dần bị thực dân hóa. Đó là dấu hiệu rõ nhất cho sự mất nước, như một hồi chuông báo động vang lên. Đây là hình ảnh tả thực xuất phát từ tấm lòng băn khoăn trước hiện thực đất nước đồng thời cũng là những điều tai nghe mắt thấy của Tú Xương.

Một sự hạ bệ từ cái đáng trân trọng lại thành cái nhố nhăng, từ cái không được tôn trọng lại được kết hợp với những nghi lễ uy nghi bậc nhất. Từ đó mà tiếng cười bật ra. Nhưng dường như là một nụ cười bất lực vì không thể làm gì khác đi. Bởi thế câu thơ là một câu hỏi hỏi người mà dường như cũng hỏi mình. Cái vòng luẩn quẩn không lối thoát cũng chẳng biết làm gì trước tình cảnh đất nước.

(…) Kẻ chức bồi, người tước cu li

Thông ngôn, kí lục chi chi

Mãn đời lính tập, trọn vì quan sang!”

(Á tế Á ca)

Đánh giá tác phẩm khi phân tích Vịnh khoa thi hương

Phân tích Vịnh khoa thi hương, ta thấy bài thơ mang tính trào phúng châm biếm sâu sắc nhưng ẩn sâu nụ cười ấy lại là một tiếng thở dài của nhà thơ. Thở dài trước tình cảnh nhố nhăng, trước sự suy vi của đất nước cũng là của Hán học. Sự nhố nhăng kệch cỡm ấy càng khiến những người nặng lòng với đất nước cũng đành ngao ngán lắc đầu bất lực. Bút pháp tả thực kết hợp với bút pháp trào phúng xuất sắc đã tái hiện lại khung cảnh trường thi mà qua đó ta cảm nhận được tấm lòng của thi nhân.

Kết bài: Bài thơ kết lại ta vừa đọc vừa cười và sau đó là đau nhói. Đó chính là giá trị của tác phẩm, cũng chính vì điều đó mà nó không trôi tuột bởi thời gian mà ngày càng đọng lại khắc sâu vào tâm trí người đọc. Đó mới chính là giá trị của sáng tác Tú Xương.

Dàn ý phân tích bài thơ Vịnh khoa thi hương của Trần Tế Xương

Để giúp bạn nắm được ý nghĩa của tác phẩm, nội dung cũng như nghệ thuật của bài thơ, Baiviethay.com sẽ giúp bạn lập dàn ý phân tích Vịnh khoa thi hương một cách tổng quát, rõ ràng và dễ hiểu.

Mở bài phân tích bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương

  • Đôi nét về nhà thơ Tú Xương cùng giá trị của tác phẩm Vịnh khoa thi hương.
  • Dẫn dắt vào vấn đề: phân tích Vịnh khoa thi hương.

Thân bài phân tích Vịnh khoa thi hương của Tú Xương

  • Đề cập nội dung bài thơ Vịnh khoa thi hương.
  • Hai câu đề: Hoàn cảnh thi, giới thiệu về trường thi.
  • Hai câu thực: Khung cảnh chi tiết về trường thi.
  • Hai câu luận: Cảnh rước quan sứ và phu nhân ngay tại trường thi.
  • Hai câu kết: Sự thức tỉnh các sĩ tử của tác giả.

Kết bài phân tích bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương

  • Khẳng định nội dung cùng ý nghĩa của tác phẩm Vịnh khoa thi hương.
  • Đề cao tấm lòng của nhà thơ Tú Xương với đất nước.
  • Bày tỏ suy nghĩ của bản thân khi phân tích Vịnh khoa thi hương của tác giả.

Như vậy với nghệ thuật trào phúng đầy thâm thúy và chua cay, cùng với ngôn ngữ miêu tả sắc cạnh, cách sử dụng phép đối trong các câu thơ, giọng điệu đầy mỉa mai…tác giả Tú Xương đã tái hiện phần nào sự hỗn tạp, đầy nhốn nháo của xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ. Bên cạnh đó, phân tích Vịnh khoa thi hương, ta còn thấy tâm sự của tác giả Trần Tế Xương trước cảnh tình của nước nhà, qua đó thêm trân trọng tấm lòng yêu nước của ông.

Trên đây là những phân tích Vịnh khoa thi hương được Baiviethay.com tổng hợp chọn lọc. Mong rằng bài viết đã cung cấp cho bạn những lời văn hữu ích phục vụ cho quá trình tìm hiểu cũng như phân tích Vịnh khoa thi hương. Chúc bạn luôn học tốt!. Nếu thấy hay đừng quên share nhé!.

Theo Baiviethay.com

Check Also

top 10 bai van ta cay chuoi 310x165 - Top 10 bài văn tả cây chuối

Top 10 bài văn tả cây chuối

Việt Nam là một trong những nước quanh năm cây trái tốt tươi. Trái cây …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *