Home / Giáo dục / Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc

Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc

Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc

Bài làm

“ Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn”, là một thể loại trữ tình thể hiện cảm xúc, suy tư của nhà thơ trước cuộc đời một cách chân tình, tự nhiên. Mỗi tác phẩm thơ ca chân chính bao giờ cũng là một khám phá về nội dung, một phát minh về hình thức. Một nhà thơ có tài năng phải là người vừa thể hiện tình cảm chủ quan vừa phản ánh tình cảm ấy qua một lăng kính mới mẻ, tài hoa. Thuộc thế hệ các nhà thơ tài năng, Tố Hữu đã góp vào làng thơ Việt Nam tác phẩm Việt Bắc hội tụ đầy đủ tình cảm và tài năng của nhà thơ, cụ thể là qua bức tứ bình trong đoạn trích sách giáo khoa 12.

Tranh tứ bình là bức tranh về bốn sự vật, hiện tượng đi kèm với nhau không thể tách rời như tùng, cúc, trúc, mai; lâm, ly, quy, phụng,… là một thú vui tao nhã của các bậc hiền triết Nho gia xưa. Nhưng rồi, không chỉ các họa sĩ mà ngay cả các nhà thơ, nhà văn cũng bắt đầu vẽ tranh tứ bình bằng thơ. Ta đã biết đến một bức tứ bình về bốn thời khắc trong ngày từ bình minh cây xanh nắng gội đến trưa, đến lúc hoàng hôn lênh láng “ máu sau rừng” rồi kết thúc là màn đêm trăng sáng trong hình ảnh chúa sơn lâm vừa uy quyền, vừa kỳ vĩ, vừa dũng mãnh vừa lớn lao, vừa thơ mộng trữ tình trong Nhớ rừng của Thế Lữ và giờ đây, trong đoạn trích Việt Bắc, người đọc lại được chiêm ngưỡng tranh tứ bình về bốn mùa đông, xuân, hạ, thu tuyệt đẹp về hoa và người Việt Bắc.

Mở đầu bức tứ bình là bức tranh mùa đông tuy lạnh lẽo mà ấm áp đến lạ thường:

“ Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.”

Mùa đông đến với cái tiết trời lạnh thấu da làm cây cối khẳng khiu, trơ trụi nhưng trong thơ Tố Hữu, rừng núi Việt Bắc lại hiện lên xanh tốt, tươi đẹp bằng vài nét chấm phá. Tố Hữu đã điểm xuyến trên nền xanh bao la bát ngát ấy là màu đỏ của hoa chuối đang lung linh khoe sắc tỏa hương dưới ánh mặt trời. Những bông hoa chuối tựa muôn vàn bó đuốc thắp sáng rực rỡ tạo nên một bức tranh với đường nét, màu sắc đối lập nhưng hài hòa, vừa cổ điển lại vừa hiện đại.

phan tich buc tranh tu binh trong bai tho viet bac - Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc

Giữa màu xanh bát ngát của núi rừng, màu đỏ tươi nóng bỏng của bông hoa chuối nổi lên làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và mang trong mình một sức sống tiềm ẩn xua tan đi cái lạnh giá, hiu hắt vốn có của núi rừng mùa đông. Tuy nhiên, thiên nhiên ấm áp, rực rỡ ấy chỉ làm nền cho sự xuất hiện của con người:

“ Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Con người xuất hiện giữa khung nền thiên nhiên rộng lớn là hình ảnh đã không còn xa lạ trong thơ văn tự cổ chí kim. Nhưng nếu trong thơ bà Huyện Thanh Quan, con người xuất hiện nhỏ bé, mờ nhạt như một đường nền cho thiên nhiên, hay trong thơ Huy Cận, con người là một tiểu ngã hòa tan tuyệt đối trong các đại ngã lớn lao của vũ trụ thì, trong thơ Tố Hữu, con người hiện ra trong tầm vóc và tư thế làm chủ của núi rừng. Trước thiên nhiên bao la, con người đứng trên đỉnh đèo cao càng trở nên kỳ vĩ, hùng tráng.

Miêu tả con người, Tố Hữu không khắc họa gương mặt mà chớp lấy một khoảnh khắc sáng rực nhất, đó là khoảnh khắc ánh nắng mặt trời chiếu vào lưỡi dao để ngang lưng người dân tạo sự phản quang lấp lánh. Câu thơ vừa mang ngôn ngữ thơ vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh, con người trở thành trung tâm của ánh sáng, xuất hiện ở một vị trí, một tư thế đẹp nhất – “ đèo cao”. Câu thơ thể hiện vẻ đẹp khỏe khoắn, vững chãi , tự tin của con người lao động. Họ đang chiếm lĩnh đỉnh cao, chiếm lĩnh núi rừng tự do, trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc tỏa sáng và tạo sức sống cho toàn bài thơ.

Đông đi qua, xuân lại đến, đó là quy luật tuần hoàn của thời gian. Từ bức tranh mùa đông, Tố Hữu chuyển nét bút vẽ nên một cảnh xuân ngập tràn sắc trắng tinh khôi, tươi mát:

“ Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”

Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ. Cụm từ “trắng rừng” được viết theo kết cấu đảo ngữ và từ ‘trắng’ được dùng như một động từ có tác dụng vào mầu sắc, diễn tả màu trắng của hoa mơ dường như lấn át tất cả màu xanh của lá cây và làm bừng sáng khu rừng bởi sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu mát. Động từ “ nở” làm sức sống mùa xuân lan tỏa và tràn trề nhựa sống.

Trong bức tranh xuân, con người hiện lên đẹp tự nhiên trong công việc hàng ngày “ chuốt từng sợi giang”.  Động từ “ chuốt” và hình ảnh thơ đã nói lên vẻ đẹp cần mẫn, nhẫn nại, khéo léo, tài hoa của người dân, đó cũng là phẩm chất của con người Việt Bắc. Bao yêu thương đều được họ gửi vào hành động “ chuốt giang” để đem đến cho đời vẻ đẹp tinh tế, duyên dáng qua những chiếc nón mong manh mà đủ che mưa trên nắng. Nếu không thực sự gắn bó với Việt Bắc thì làm sao người ra đi phát hiện được những nét đáng yêu, đáng nhớ ấy để khắc ghi nó mãi trong lòng?

Trong niềm thương nhớ của người ra đi không chỉ thắp sáng những đốm lửa hoa chuối rực rỡ, không chỉ nhuộm trắng sắc trắng của hoa mơ mà còn có cả màu vàng óng ả của những rừng phách ngày hè:

“ Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.”

Với động từ mạnh “đổ” và sắc vàng của hoa phách, tác giả đã vẽ nên một bức tranh sơn mài lung linh màu sắc hoài niệm và rộn rã âm thanh. Cảnh núi rừng như bừng sáng, nhuộm vàng cả đại ngàn để làm nền cho hình ảnh của em gái miền sơn cước đang hái măng một mình. Cách gọi “cô em gái” thật thân thương, trìu mến trong mối quan hệ gia đình. Cách gieo vần “ gái”, “ hái”và điệp phụ âm “ măng một mình” khiến nhịp điệu câu thơ trở nên quyến luyến. Dù chỉ có một mình đứng giữa núi rừng lớn lao nhưng hình ảnh thơ không gợi lên những ấn tượng về sự cô đơn, hưu quạnh mà toát lên vẻ đẹp chịu thương chịu khó của cô gái vùng cao. Cô em gái ấy đang cần mẫn hái từng búp măng rừng để chuẩn bị cho bữa ăn hàng ngày và cung cấp cho bộ đội kháng chiến. Có lẽ vì vậy, đằng sau câu thơ là sự trân trọng, cảm thông, yêu mến của tác giả.

Từ nét vẽ mùa hạ, ngòi bút Tố Hữu chuyển sang hoàn thiện bộ tranh tứ bình với bức tranh cảnh và người Việt Bắc trong ngày thu như chìm đắm trong ánh trăng huyền ảo, lung linh, dịu mát:

“ Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Cảnh đêm thu hiện lên với trăng thanh gió mát thật thơ mộng trữ tình. Với Tố Hữu, trăng không chỉ là cảnh mà còn là biểu tượng của tự do, của khát vọng hòa bình. Ánh trăng tràn ngập trong không gian, soi sáng lên từng bản làng Việt Bắc. Để có ánh trăng ấy chúng ta đã phải trải qua bao gian khổ hi sinh vì vậy, ánh trăng chứa cả công lao tình nghĩa. Ngắm trăng trong cảnh mùa thu, nhà thơ không nhớ tới những con người lao động cụ thể như trong bức tranh đông, xuân, hạ mà “ nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” khiến hình ảnh con người như nhòa đi để nỗi nhớ trở nên sâu đậm hơn. Tiếng hát vang lên ở cuối bức tứ bình như khúc vĩ thanh truyền đi thông điệp về lòng thủy chung, ân nghĩa của con người.

Tranh tứ bình thường viết theo trình tự thời gian sáng, trưa, chiều, tối; xuân, hạ, thu, đông… Nhưng, Tố Hữu đảo lộn mọi trật tự . Vẽ tranh tứ bình, nhà thơ bắt đầu từ mùa đông tuần hoàn đến thu để gửi gắm ý nghĩa về hành trình giành độc lập của dân tộc. Mùa đông ấy bao khó khăn, khắc nghiệt song bằng sự đoàn kết, nghĩa tình, chúng ta đã đi đến tự do với hình ảnh biểu tượng là ánh trăng hòa bình. Kết thúc bằng bức tranh mùa thu, nhà thơ đã hoàn chỉnh thiên nhiên tuyệt mỹ của núi rừng, gợi ra những rung động sâu xa về tình yêu quê hương đất nước.

Check Also

top 10 bai van ta cay chuoi 310x165 - Top 10 bài văn tả cây chuối

Top 10 bài văn tả cây chuối

Việt Nam là một trong những nước quanh năm cây trái tốt tươi. Trái cây …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *