Home / Giáo dục / Phân tích tình yêu và nỗi đau của Thúy Kiều qua 8 câu thơ cuối của trích đoạn Trao duyên

Phân tích tình yêu và nỗi đau của Thúy Kiều qua 8 câu thơ cuối của trích đoạn Trao duyên

Phân tích tình yêu và nỗi đau của Thúy Kiều qua 8 câu thơ cuối của trích đoạn Trao duyên

Bài làm

Mộng Liên đường chủ nhân từng ca ngợi Nguyễn Du có: “Con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”. Còn Hoài Thanh thì tôn vinh: “một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”. Nếu “Truyện Kiều” là một cung đàn bạc mệnh thì đoạn trích “Trao duyên” là một cung gió thảm mưa sầu. Tấm lòng nhân đạo đã thôi thúc Nguyễn Du đồng cảm với tình yêu và nỗi đau của Thúy Kiều và đặc biệt là qua tám câu cuối cùng của đoạn trích “Trao duyên” với nghệ thuật diễn tả tâm lí nhân vật.

Đoạn trích “Trao duyên” nằm trong phần “Gia biến và lưu lạc”, từ câu 723 đến 756 của Truyện Kiều. Gia đình gặp nạn, Kiều quyết định bán mình để cứu cha và em. Chữ “hiếu” đã tròn nhưng chữ “tình” chưa vẹn. Đêm cuối cùng trước khi phải ra đi theo Mã Giám Sinh, nàng thao thức trắng đêm về việc trả nợ tình cho Kim Trọng. Giữa lúc Kiều đang “dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn” thì Vân chợt tỉnh giấc xuân ghé đến ân cần hỏi han chị. Kiều tâm sự với em nỗi lòng mình và cậy nhờ Vân thay mình nối duyên gá nghĩa với Kim Trọng. Đoạn trích này là lời trao duyên và tâm trạng của Kiều đêm ấy. “Trao duyên” là nhan đề do người biên soạn đặt đã khái quát đầy đủ tinh thần và nội dung của trích đoạn. Xưa nay, người ta chỉ trao đồ, trao vật, trao tình chứ mấy ai trao duyên đôi lứa. “Trao duyên” là hành động trả nghĩa chàng Kim của Thúy Kiều thể hiện một nét đẹp trong đạo sống của người xưa: Tình thường gắn liền với nghĩa. Quan niệm truyền thống về tình yêu khiến Kiều không thôi day dứt muốn chu toàn phần nghĩa nặng sâu khi khối tình đã dang dở. “Truyện Kiều” nói chung và “Trao duyên” nói riêng được viết dựa trên cốt truyện của “Kim Vân Kiều truyện” – một tác phẩm văn xuôi cỡ vừa của nhà văn Trung Hoa Thanh Tâm tài nhân. Bằng thể thơ lục bát dân tộc Nguyễn Du đã ghi lại “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” làm rung động muôn triệu trái tim người Việt Nam.

phan tich tinh yeu va noi dau cua thuy kieu qua 8 cau tho cuoi cua trich doan trao duyen - Phân tích tình yêu và nỗi đau của Thúy Kiều qua 8 câu thơ cuối của trích đoạn Trao duyên

Quả thật, đúng như vậy, tám câu cuối của trích đoạn “Trao duyên” đã khắc họa tình yêu và nỗi đau của Thúy Kiều. Tình yêu là một trong những tình cảm đẹp nhất, nhân văn nhất của con người trong đó có tình yêu đôi lứa được coi là nhụy hoa của bông hoa cuộc đời. Tám câu cuối “Trao duyên” đã cho ta thấy tình yêu sâu nặng , khắc cốt ghi tâm của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng. Nhưng chính tình yêu sâu nặng ấy khi đổ vỡ, chia lìa lại tạo nên nỗi đau xé lòng k thể nguôi ngoai trong trái tim Thúy Kiều. Ngoài nỗi đau tình yêu tan vỡ, nhân vật còn cảm nhận sâu sắc nỗi đau thân phận của chính mình. Tình yêu và nỗi đau của Thúy Kiều đã được ngòi bút miêu tả tâm lí tài tình của Nguyễn Du diễn tả thật thấm thía, xúc động. Hãy cùng tìm hiểu tám câu cuối của trích đoạn “Trao duyên” để một lần nữa sống cùng nhân vật trong cả tình yêu và nỗi đau.

Hồi tưởng lại quá khứ nhưng quá khứ một đi không trở lại, hướng đến tương lai song tương lai mịt mờ, bế tắc, Kiều quay trở lại thực tại đầy phũ phàng, nghiệt ngã thấm thía sâu sắc nỗi đau tình yêu tan vỡ trong khi tình yêu dành cho Kim Trọng vẫn còn rất sâu nặng:

“Bây giờ trâm gãy gương tan

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”

Nỗi đau đọng lại trong thành ngữ “trâm gãy gương tan”. “Trâm”, “gương” thường là kỉ vật của đôi lứa trao khi đính ước, nói lời hẹn thề mà giờ đây “gãy”, “tan”. Thành ngữ quen thuộc giàu sắc thái biểu cảm đã nói lên tình cảnh đổ vỡ chia lìa không thể nào cứu vãn, chẳng thể nào xoay chuyển. Nỗi đau ấy càng xé ruột, xé gan khi đôi lứa từng có những ngày tháng “muôn vàn ái ân”, ngọt ngào say đắm.

Dư vị của tình yêu đầu đời trong sáng, ngọt ngào vẫn còn đó tương phản gay gắt với nỗi đau đổ vỡ chia lìa:

“Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”

Cách gọi “tình quân” mang theo bao yêu thương, lưu luyến chẳng nỡ xa rời. Cái lạy của Kiều với Kim Trọng khác hẳn hành động “lạy thưa” Van ở đầu đoạn trích. Nếu hành động “lạy thưa” với Thúy Vân là lạy xin, lạy nhờ một việc thiêng liêng, hệ trọng trong tâm thế của người mang ơn mắc nợ thì cái lạy dành cho Kim Trọng vừa là tạ lỗi, vừa là tạ từ trong vị thế của người mang mặc cảm có lỗi vì chưa trọn tình vẹn nghĩa. Thành ngữ “tơ duyên ngắn ngủi” ẩn chứa niềm xót xa khôn cùng. Đã có duyên gặp gỡ, đã có tình nặng sâu mà tiếc thay duyên ấy thì ngắn, tình ấy phải tan. Nỗi đau về tình yêu tan vỡ của Thúy Kiều được Nguyễn Du đồng cảm thương xót diễn tả tài tình qua những câu thơ như có “máu chảy trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên trang giấy”(Mộng Liên đường chủ nhân).

Nỗi đau về tình yêu tan vỡ chưa nguôi trái tim Kiều lại phải chịu những nhát cứa của nỗi đau thân phận:

“Phận sao phận bạc như vôi!

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”

Thân phận bạc bẽo, lỡ làng của Kiều được thể hiện qua những thành ngữ hàm súc, cô đọng. “Phận bạc như vôi” hình thức cảm thán “phận sao” đầy chua chát đi cùng với thành ngữ có tính chất so sánh chứa đầy cảm giác ngán ngẩm, tự thương tự đau. Bên cạnh đó, thành ngữ “nước chảy hoa trôi” đã diễn tả thấm thía cảnh ngộ trái ngang, bi kịch của nàng Kiều. Người con gái tài sắc là thế giờ chẳng khác nào bông hoa dập dềnh trên dòng nước chỉ biết phó mặc cho “nước chảy hoa trôi”. “Lỡ làng” một tình duyên với Thúy Kiều cũng là sự lỡ dở một đời người. Dự cảm có phần oan nghiệt đó đã được chứng thực ở phần sau của Truyện Kiều”. Nào ai ngờ bông hoa phong nhụy năm xưa đã trở thành đóa hoa giữa đường tan tác.

Hai câu cuối cũng được đẩy lên đến đỉnh điểm, tình yêu tột cùng hòa trong nỗi đau tột độ:

“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Nhịp thơ ngắt 3/3 “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!” như tiếng nấc nghẹn ngào, như tiếng khóc đau đớn. Các thán từ “Ôi”, “Hỡi” tạo ra sắc thái thống thiết cho lời hô gọi. Kiều gọi tên Kim Trọng hai lần dồn dập, thiết tha trong sự đau đớn đến hoảng loạn. Cách gọi “Kim Lang” chứa đựng tình sâu ý nặng. Từ “thôi thôi” có gì như tuyệt vọng, bế tắc. Trong nỗi đau vỡ òa, Kiều nhận mình đã “phụ” chàng Kim. Qua chữ “phụ” Kiều bộc lộ sự sám hối, đau đớn, lời tạ tội thống thiết với người yêu. Kiều đã nhận hết tất cả phần đáng trách, phần thiệt thòi về mình bằng tấm lòng vị tha, hi sinh cao cả. Cô Kiều của Nguyễn Du đáng trân trọng là thế. Trong hoàn cảnh phải bán mình cứu cha và em vẫn tìm cách cậy nhờ Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng, vẫn thấy nợ tình, nợ nghĩa chàng Kim. Cùng với nỗi đau tình yêu và nỗi đau thân phận, vẻ đẹp nhân cách đáng trân trọng của Kiều hẳn cũng là điều khiến người đọc thương mến. Con người ấy bao giờ cũng sống cho người khác hơn là sống cho chính mình. Tuy Thúy Kiều tự nhận mình đã phụ tình chàng Kim nhưng chắc chắn cả Kim Trọng và người đọc đều thấy nàng đáng thương chứ không hề đáng trách. Kiều đã làm tròn đạo hiếu của một người con, đã vì nghĩa quên thân. Chưa một phút giây nào người con gái ấy không nghĩ tới người thân, người thương. Nỗi niềm của Thúy Kiều được Kim Trọng thấu hiểu nên mười lăm năm sau vào ngày tái ngộ Kim – Kiều chàng vẫn trân trọng  khẳng định:

“Như nàng lấy hiếu làm trinh

Bụi nào cho đục được mình ấy vay”

Và tỏ nguyện ước thiết tha muốn được nối lại tình cầm sắt với Thúy Kiều.

Đoạn trích “Trao duyên” đã bộc lộ tư tưởng nhân đạo của nhà nhân đạo chủ nghĩa Nguyễn Du với những dòng thơ “Mực muốn múa mà bút muốn bay, văn hay phô mà chữ hay nói”, “khiến người khóc, khiến người vui, khiến người buồn”.. Nguyễn Du đã bộc lộ sự thương cảm sâu sắc cho nỗi đau tình yêu, nỗi đau thân phận của Thúy Kiều, nhất là trong tám câu thơ cuối. Đồng thời, đại thi hào còn bày tỏ sự trân trọng ngợi ca nhân cách cao thượng, phẩm giá đẹp đẽ của Thúy Kiều. Nét mới của chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du là ở chỗ nhà thơ đã hướng trọng tâm chú ý đến con người cá nhân – một phạm trù còn khá xa lạ chưa được quan tâm đúng mức trong văn học Trung Đại. Thời kì này, tinh thần phi ngã, vô ngã đề cao cái ta trách nhiệm, bổn phận vẫn đang chiếm ưu thế. Sự thức tỉnh của con người cá nhân với niềm vui và nỗi đau, với khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc trên trang thơ Nguyễn Du đã đưa chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam lên một tầm cao mới. “Truyện Kiều” nói chung và đoạn trích “Trao duyên” nói riêng xứng đáng là khúc “Nam âm tuyệt xướng”( Đào Nguyên Phổ) nhờ ngôn ngữ chọn lọc, trau chuốt và ngòi bút phân tích tâm lí nhân vật bậc thầy. Những đoạn độc thoại nội tâm tinh tế đã hé mở chiều sâu nỗi niềm nhân vật.

“Một nước không thể không có quốc hoa, Truyện Kiều là quốc hoa của ta; một nước không thể không có quốc túy, Truyện Kiều là quốc túy của ta; một nước không thể không có quốc hồn, Truyện Kiều là quốc hồn của ta”, đó là câu nói của Phạm Quỳnh khi nhận xét về “Truyện Kiều”, lời ấy tưởng chừng không có gì là quá. Với những giá trị về nội dung và nghệ thuật xuất sắc, thời gian đã tôn vinh tác phẩm ấy xứng danh với tên “Tập đại thành của thơ ca Tiếng Việt.” Tóm lại, tám câu thơ cuối không chỉ cho ta thấy tình yêu và nỗi đau của Thúy Kiều mà còn làm toát lên vẻ đẹp nhân cách của nàng, dù rơi vào đau khổ tuyệt vọng đến cùng cực nhưng nàng vẫn luôn lo nghĩ cho người khác mà quên đi nỗi đau của bản thân.

Check Also

phan tich khuc vi thanh trong bai tho tay tien 310x165 - Phân tích khúc vĩ thanh trong bài thơ Tây Tiến

Phân tích khúc vĩ thanh trong bài thơ Tây Tiến

Phân tích khúc vĩ thanh trong bài thơ Tây Tiến Bài làm Tây Tiến là …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *