Home / Giáo dục / Suy nghĩ về câu nói: Tiêu chuẩn vĩnh cữu của thơ ca là cảm xúc (Bằng Việt)

Suy nghĩ về câu nói: Tiêu chuẩn vĩnh cữu của thơ ca là cảm xúc (Bằng Việt)

Đề bài: “Tiêu chuẩn vĩnh cữu của thơ ca là cảm xúc” (Bằng Việt). 

Bài làm

Duybray cho rằng: “Thơ là người thư ký trung thành của những trái tim”. Tình cảm xuất phát từ những trái tim biết rung động, yêu thương và người nghệ sĩ phải mang trong mình trái tim như thế. Nếu óc quan sát gắn liền với lý trí thì óc tưởng tượng lại không thể tách rời cảm xúc, tâm hồn thi sĩ. “Tiêu chuẩn vĩnh cữu của thơ ca là cảm xúc (Bằng Việt) đã nhận định.

“Tiêu chuẩn vĩnh cữu” là thứơc đo, chuẩn mực đánh giá mang giá trị bất biến, đúng đắn và phù hợp với mọi thời đại. “Cảm xúc” là trọn vẹn những cung bậc tình cảm, tâm trạng, thái độ con người, thi sĩ thể hiện trong tác phẩm. Câu nói của Bằng Việt đã đề cao vai trò  của tình cảm trong tác phẩm nghệ thuật, thước đo bất biến đánh giá giá trị thơ ca mọi thời đại là yếu tố cảm xúc, tình cảm.

Thật đúng khi Xuân Diệu cho rằng: “Thơ hay, lời thơ chín đỏ trong cảm xúc”. Không có cảm xúc liệu thi sĩ có thể tạo nên những vần thơ hay, bất tử hóa trong lòng người đọc. Lúc ấy, ngôn từ chỉ là những xác chữ không hồn nằm thẳng đơ trên trang giấy. Người cầm bút viết nên những dòng tâm tư ấy phải biết cách “xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”. Chỉ khi cái đẹp của ngôn từ trong hình thức nghệ thuật chứa đựng, thể hiện cảm xúc, suy ngẫm mãnh liệt sâu sắc của nhà thơ trước cuộc sống thì mới có thơ hay, đích thực. Văn học phản ánh đời sống con người. Với thơ ca, cuộc sống không chỉ là hiện thực bên ngoài mà còn là đời sống tâm hồn, tình cảm sâu bên trong trái tim người cầm bút. Thơ tôn sùng nghệ thuật trong sự thăng hoa cảm xúc ; thơ là sự say đắm trong một thế giới vô thức tràn đầy rung cảm. Bandac đã từng coi thơ là “rượu của quỷ sa tăng” là sự rung cảm của tình cảm mãnh liệt. Thế mới nói, thứ cảm xúc nhạt nhòa, nhẹ nhàng không phải là cốt tủy của thơ ca; đó phải là tình cảm ở mức độ mãnh liệt nhất; thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút sáng tạo, tư duy rung cảm. Độc giả là yếu tố quan trọng tạo nên sức sống lâu bền, bất hủ của tác phẩm nghệ thuật: “Thơ là điệu hồn, đi tìm những hồn đồng điệu” (Tố Hữu). Vì vậy, nếu thi nhân bộc lộ cảm xúc, tình cảm không chân thành, sâu sắc, ám ảnh; thì chắc hẳn sẽ không tạo được sự đồng cảm ở độc giả, đồng nghĩa với việc thơ sẽ thiếu đi sức sống, sức lan tỏa mãnh liệt. Người làm thơ vốn dĩ không chỉ để cho người đọc mà là để tìm sự đồng cảm giữa những người tri âm tri ngộ. Dòng chảy cuộc đời ngàn xưa vẫn thế, chỉ có những rung động sâu xa mới trả lại cho chữ vẻ đẹp mới mẻ, độc đáo như lần đầu. Thật đúng đắn khi nhận định “Tiêu chuẩn vĩnh cữu của thơ ca là cảm xúc” (Bằng Việt).

suy nghi ve cau noi tieu chuan vinh cuu cua tho ca la cam xuc bang viet - Suy nghĩ về câu nói: Tiêu chuẩn vĩnh cữu của thơ ca là cảm xúc (Bằng Việt)

Tình cảm, cảm xúc trong thơ phải có sức lay động lòng người. Thật chí lý khi Chế Lan Viên viết: “Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép”. Chính Xuân Diệu là điển hình tiêu biểu cho chân lý ấy. Khát khao giao cảm mãnh liệt với đời, với cuộc sống và con người chính là những cảm xúc chân thật nhất được viết bởi những rung động, thăng hoa chỉ có ở Xuân Diệu mà thôi:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây là của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si”.

(Vội vàng)

Thi sĩ như trải ra trước mặt người đọc một bữa tiệc đầu, mâm cỗ thịnh soạn với thực đơn vô cùng hấp dẫn, quyến rũ ngọt ngào đầy ái ân. Đó không chỉ là bức tranh xuân sắc, xuân tình của “bướm ong” sống trong tuần tháng mật, hoa xuân nở trên nền xanh rì của đồng nội bao la; “cành tơ” xuân tràn đầy sức sống và ánh sáng lấp lánh tỏa ra từ ánh nhìn đầy tình tự của cô gái; đó hơn hết là cảm xúc mê đắm, say sưa trong niềm vui trần thế của nhà thơ bằng cặp mắt “xanh non”, “biếc rờn” qua lăng kính của tình yêu. Đối với Xuân Diệu, thiên nhiên đã thôi không còn là chuẩn mực của vẻ đẹp. Hơn hết, ấy phải mang dáng dấp vẻ đẹp của con người. Ánh sáng đẹp gợi nhiều liên tưởng thú vị về “hàng mi” của đôi mắt đang trong độ xuân thì; niềm vui đẹp từ một vị thần “Vui”, đại diện cho con người. Và xúc cảm thẫm mĩ nâng lên trong câu thơ về tháng giêng, gợi nên vẻ đẹp của sự táo bạo, cuồng nhiệt, giục giã đến không ngờ”:

“Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”

Trong con mắt kẻ si tình, mùa xuân hiện ra thật đẹp, thật gợi cảm, chở nặng ý vị tuyên ngôn và đậm chất Xuân Diệu. Điều mà ít ai có thể ngờ đến chính là việc sử dụng kết hợp tính từ “ngon” và “cặp môi gần”. Chỉ có sự so sánh trừu tượng ấy thì thời gian mới thật sự trở nên gần gũi, quen thuộc trong cảm xúc của một tâm hồn rất khát thèm, ham muốn tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp trần thế xinh tươi này. Nhà trí thức Tây học trẻ Xuân Diệu không nguôi “đốt cảnh bồng lai và đưa ai nấy về hạ giới”.

Bởi lẽ đó Xuân Diệu luôn diễn tả khát vọng mãnh liệt muốn thâu tóm cả đất trời, mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ vào vòng tay, lồng ngực của mình. Và đỉnh điểm sự khát khao đến cuồng nhiệt, cuống quýt, vội vã ấy chính là cử chỉ vồ vập, mãnh liệt, đáng yêu:

“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”.

“Cắn” chứ không phải một động từ mạnh nào hết. Đối với thi sĩ, hình như chỉ có cắn mới thỏa cái khát vọng giao cảm mãnh liệt, điên cuồng của mình. Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu là minh chứng tiêu biểu cho chân lý: chỉ khi nhà thơ viết ra những cung bậc tình cảm chân thật của mình, tác phẩm mới chứa đựng sức sống và hướng người đọc đến giá trị Chân-thiện-mĩ cao đẹp. Nếu Vội vàng thể hiện nguồn sống dạt dào xúc cảm mãnh liệt của Xuân Diệu thì Đây thôn Vĩ Dạ được viết nên bởi những nỗi niềm bâng khuâng, khát khao về hạnh phúc của thi sĩ Hàn Mạc Tử đa tình mang nhiều duyên nợ với cảnh và con người thôn Vĩ:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn hiu, hoa bắp lay”.

Giọng thơ nhẹ nhàng, thoáng buồn và vương nhiều ưu sầu, phiền muộn. Nghệ thuật đối tài tình tạo nên bối cảnh chia ly,xa vời như chính tâm trạng nhà thơ. Gió mây đôi ngã như mối tình nhà thơ ngày càng xa vời, cách trở. Hoa bắp chỉ nhẹ nhàng, khẽ khàng đong đưa trong gió thoảng chẳng khác nào nhịp điệu thơ mộng, khoan thai nơi dòng sông Hương núi Ngự. Ngoại cảnh càng mênh mang, sống động càng thấm đẫm nỗi lòng, tâm tình man mác cùa thi nhân. Cái tôi trữ tình đượm buồn ấy không lúc nào nguôi nhớ về quê hương, đất nước, dành trọn trái tim và tâm hồn cho cảnh vật và con người Vĩ Dạ:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra”.

Ở trên là “bến sông trăng”, “con thuyền trăng” đầy thơ mộng, trữ tình, đến đây hình ảnh con người ẩn hiện phía sau ánh nhìn thi nhân. Điệp từ “khách đường xa” lặp lại hai lần kết hợp nhịp 4/3 thể hiện rõ nỗi niềm trông ngóng đến da diết của tác giả. Màu áo trắng phải chăng là màu ánh nắng nơi Vĩ Dạ mà nhìn vào đó tác giả choáng ngợp, ngất ngây. Dường như ta thấy trái tim khao khát yêu thương, nỗi đau, kỉ niệm tình yêu và nỗi nhớ hướng về quê hương, con người thôn Vĩ được thi nhân gửi vào trang thơ của mình.

Thơ là lĩnh vực nghệ thuật sáng tạo, phản ánh tình cảm, thái độ, rung động từ con tim, tấm lòng người nghệ sĩ trước cuộc đời thông qua những hình tượng nghệ thuật. Chính vì vậy, thơ là tấm gương phản chiếu đời sống tình cảm, tâm hồn con người trước cuộc sống cũng như cảm xúc chân thật mà người nghệ sĩ từng trải qua. Tuy nhiên, nếu chỉ thiên về cảm xúc thì thơ sẽ thiếu đi chất trí tuệ, triết lý suy tưởng mang tính khái quát về cuộc sống. Không chỉ đề cao cảm xúc, thơ ca cần có cả lý trí người cầm bút bởi đó là chiều sâu nhận thức qua lăng kính chủ quan của tác giả. Người nghệ sĩ phải là người có tấm lòng cao cả với cuộc đời, biết yêu thương, sống đẹp bằng cả trái tim mãnh liệt và sâu sắc, đặc biệt là đề cao yếu tố tình cảm, cảm xúc trong việc sáng tác thơ, khi đó, thơ sẽ có sức mạnh thanh lọc tâm hồn con người. Độc giả cũng là một trong những yếu tố đặc biệt tạo nên sức sống lâu bền của thơ ca, hay tác phẩm nghệ thuật. Tiếp nhận một cách khách quan, tri âm, đồng cảm, sẻ chia hồn đồng điệu với thi nhân. Có như thế mới thấu hiểu hết được cái tâm, cái tài mà tác giả gửi gắm vào thơ ca.

Nhận định của Bằng Việt là xác đáng, đúng đắn và phù hợp với quan điểm thẫm mĩ nghệ thuật độc đáo. Đó là yếu tố làm nên tác phẩm thơ, cũng là quyết định sự sống còn của thơ ca. Trong đó, xúc cảm mãnh liệt có vai trò đặc biệt trong việc khơi nguồn sáng tạo cho người nghệ sĩ. “Trong lúc làm thơ, nếu tôi cảm thấy những nhịp đập quen thuộc của con tim, tôi tin chắc rằng: câu thơ sẽ thuộc loại hay nhất mà tôi có thể đạt tới nổi (A Muyse). Mà “Vội vàng” và “Đây thôn Vĩ Dạ” là hai đóa hoa thơ thơm ngát, thanh khiết nhất giữa rừng hoa thơ ca Việt Nam.

Check Also

phan tich khuc vi thanh trong bai tho tay tien 310x165 - Phân tích khúc vĩ thanh trong bài thơ Tây Tiến

Phân tích khúc vĩ thanh trong bài thơ Tây Tiến

Phân tích khúc vĩ thanh trong bài thơ Tây Tiến Bài làm Tây Tiến là …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *